Theo Đông y, tam thất có vị đắng, hơi ngọt, nằm trong nhóm hoạt huyết hóa ứ, có tác dụng hành ứ, chỉ huyết, tiêu thũng, ho ra máu. Đặc biệt có tác dụng với các vết máu bầm.
Ngày nay, người ta còn sử dụng củ tam thất, nụ hoa tam thất trong các món ăn để bồi bổ sức khỏe và có tác dụng chữa bệnh.
Một số bài thuốc phổ biến:
– Những trường hợp chảy máu bầm tím do chấn thương, ho ra máu, rong kinh rong huyết, chảy máu cam: Dùng bột củ tam thất hòa nước ấm uống hàng ngày, mỗi ngày 20g.
– Người suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh: Tim lợn 1 quả, tam thất 30g, long nhãn 16g, đương quy 6g, đảng sâm 16g, hạt sen 20g. Hấp cách thủy 30 phút.
– Thống kinh (đau bụng khi hành kinh): Tam thất 20g hòa với nước ấm hoặc cháo loãng uống 10 ngày trước kỳ kinh. Tam thất có tác dụng hoạt huyết, chỉ đau.
– Người bị ung thư, ngoài các thuốc đặc trị có thể dùng thêm tam thất tươi (chưa sao) hỗ trợ điều trị: Tam thất rửa sạch, thái lát. Các món ăn cho vài lát tam thất nấu cùng. Ngày ăn 30 – 40g tam thất.
– Đau thắt ngực do bệnh mạch vành: Tam thất 20g, đan sâm 20g sắc uống hoặc lấy nước nấu cháo. Ăn liên tục trong vài tháng.
Các món ăn trên thích hợp với những người yếu mệt sau khi ốm dậy hoặc phụ nữ sau khi sinh mất máu, những người mắc bệnh tim.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét